Hôm nay, 19 Tháng 10 2018 09:03

Múi giờ UTC + 7 Giờ




Tạo chủ đề mới Gửi bài trả lời  [ 14 bài viết ]  Chuyển đến trang Trang vừa xem  1, 2
Người gửi Nội dung
 Tiêu đề bài viết: Re: Các công pháp luyện KC thế hệ 1 - Phần 2: Công pháp
Gửi bàiĐã gửi: 19 Tháng 8 2010 12:53 
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 25 Tháng 8 2009 01:41
Bài viết: 271
Nội-Chu-thiên pháp

Nội-Chu-thiên pháp là công pháp luyện để cân bằng và hiệu chỉnh Ngũ khí nội tạng, cũng như đảm bảo các quá trình sinh học trong cơ thể.
Vòng Nội-Chu-thiên theo thứ tự
Phế => Tỳ => Tâm => Thận => Tâm bào => Can
Trong cơ thể có năm tạng cơ bản là : Phế (phổi), Tỳ (lá lách), Tâm (tim), Thận, Can (gan) và tạng danh định Tâm bào (màng bao tim). Các tạng này hoạt động dựa trên cơ sở cân bằng theo vòng Nội-Chu-thiên (nằm trong vòng Đại Chu thiên).
Các đặc tính của Ngũ tạng :
- Phế : tính táo (khí khô), màu trắng bạc, vượng vào giờ Dần, suy vào giờ Thân. Hệ chủ là Hô hấp và Biểu bì (da), khai khiếu ra Da.
- Tỳ : tính thấp (khí ẩm), màu vàng tươi, vượng vào giờ Tỵ, suy vào giờ Hợi. Hệ chủ là Tiêu hóa và Cơ, khai khiếu ra Mũi.
- Tâm : tính hỏa (khí nóng), màu đỏ tươi, vượng vào giờ Ngọ, suy vào giờ Tý. Hệ chủ là Huyết và Mạch, khai khiếu ra lưỡi, miệng.
- Thận : tính hàn (khí lạnh), màu đen nhung, vượng vào giờ Dậu, suy vào giờ Mão. Hệ chủ là bài tiết và xương cốt, khai khiếu ra tai.
- Tâm bào : tính thử (nhiệt khí), màu đỏ tím, vượng vào giờ Tuất, suy vào giờ Thìn. Hệ chủ là thân nhiệt, khai khiếu ra răng lợi.
- Can : tính phong (fong động, lan truyền, tê chạy), màu xanh, vượng vào giờ Sửu, suy vào giờ Mùi. Hệ chủ là gân và hệ thống cân bằng cơ thể (tiền đình), khai khiếu ra mắt.
* Quá trình thực hiện :
Bước thứ nhất : kích thích ngũ khí
Lần lượt kích thích Ngũ khí theo thứ tự Nội-Chu-thiên, với nguyên tắc chung như sau :
Điều hòa hô hấp, hơi thở sâu - đều - chậm, nhẹ nhàng, tập trung Bách-hội, đọc thầm khẩu quyết “Bách-hội thu khí”, từ từ hít vào, quán khí theo mạch Nhâm đi xuống. Nén hơi quán tụ tại Đan-điền, đọc khẩu quyết “Đan-điền sinh khí”. Thở ra từ từ, quán khí lên tạng Tâm (hay Tạng tương ứng), đọc khẩu quyết “Tâm khí phát sinh” (hay Danh khí khác), từ từ thở ra hết, quán khí theo kinh Tâm (hay kinh mạch khác tương ứng với tạng) từ trong ra. Ngưng thở, tụ quán tại Lao-cung tả huyệt (hay cuối đường kinh mạch của Tạng tương ứng), đọc khẩu quyết “Xả tâm khí” (hay Danh khí khác).
* Lưu ý : - Tiến hành theo thứ tự Nội-Chu-thiên.
- Có thể thay kinh âm của tạng bằng đường xả ở mặt trong cánh tay (phải cho Phế hữu, Tâm bào; trái cho Tâm và Phế tả) ra lòng bàn tay, tại Lao-cung huyệt. Hay ở mặt trong của cẳng chân (phải cho Thận hữu và Can, trái cho Thận tả và Tỳ) ra lòng bàn chân, tại Dũng-tuyền huyệt.
- Có thể sử dụng nguyên tắc cân bằng Âm - Dương để tăng hiệu quả.


Bước thứ hai : liên hợp Nội-Chu-thiên
Điều hòa hô hấp, hơi thở sâu - đều - chậm, nhẹ nhàng, ổn định nhịp tim, tập trung Bách-hội, đọc khẩu quyết “Bách-hội thu khí” từ từ hít vào, quán khí theo mạch Nhâm đi xuống. Nén hơi tại Đan-điền, đọc khẩu quyết “Đan-điền sinh khí”. Thở ra từ từ, quán khí từ Đan-điền lên Phế thì ngưng lại, đọc khẩu quyết “Phế khí phát sinh”.
Từ từ hít vào quán khí từ Phế xuống Tỳ (hạ sườn trái). Nén hơi, quán tụ tại Tỳ, đọc khẩu quyết “Tỳ khí phát sinh”. Từ từ thở ra, quán khí từ Tỳ lên Tâm. Ngưng thở quán tụ tại Tâm, đọc khẩu quyết “Tâm khí phát sinh”.
Từ từ hít vào quán khí từ Tâm xuống Thận. Nén hơi, quán tụ tại Thận, đọc khẩu quyết “Thận khí phát sinh”. Từ từ thở ra, quán khí từ Thận lên Tâm bào, đọc khẩu quyết “Nhiệt tâm khí phát sinh”.
Từ từ hít vào quán khí từ Tâm bào xuống Can. Nén hơi, quán tụ tại Can, đọc khẩu quyết “Can khí phát sinh”. Từ từ thở ra, quán khí từ Can ra Mệnh-môn, đi từ dưới lên theo mạch Đốc. Ngưng thở, đọc khẩu quyết “Toàn thân xả khí”, xả mạnh khí ra các bộ vị tương ứng : Dũng-tuyền, Lao-cung, Bách-hội. Điều hòa hô hấp trở lại, lặp lại vài lần cho tốt.

Bước thứ ba : hành Nội-Chu-thiên
Điều hòa hô hấp, hơi thở sâu - đều - chậm, nhẹ nhàng, tập trung Bách-hội. Thu ngoại khí từ Bách-hội, quán theo mạch Nhâm đi xuống, nén hơi để Chân khí phát sinh tại Đan-điền.
Từ từ thở ra quán khí từ Đan-điền lên Phế, ngưng thở (nửa nhịp đầu) để Phế khí phát sinh. Từ từ thở ra tiếp, quán chuyển khí từ Phế xuống Đại trường, ngưng thở (nửa nhịp cuối) xả khí theo kinh mạch xuống hai lòng bàn chân, ngưng thở thông xả mạnh ra ngoài. Trở lại vận khí từ Đan-điền lên Phế, quán tụ tại Phế quản xả khí theo kinh mạch ra hai lòng bàn tay, ngưng thở thông xả mạnh ra ngoài. Tiếp tục vận khí từ Đan-điền lên Phế, quán chuyển thông xả ra ngoài da (cảm giác : tê chạy trên mặt da, và ấm nóng hoặc mát lạnh tùy theo thể trạng của từng người).

Vận khí từ Đan-điền xuống Tỳ, ngưng thở (nửa nhịp đầu) để Tỳ khí phát sinh, quán chuyển sang Vị, ngưng thở (nửa nhịp cuối) thông xả mạnh ra lòng bàn chân trái. Trở lại quán khí từ Đan-điền xuống Tỳ, ngưng thở tập trung tại Tỳ (Tỳ khí phát sinh), từ từ thở ra quán khí tụ vào hệ tiêu hóa, thông xả mạnh ra lòng bàn chân bàn tay. Tiếp tục quán khí từ Đan-điền xuống Tỳ, ngưng thở để Tỳ khí phát sinh, từ từ thở ra quán khí tụ tại hệ xoang mũi, ngưng thở thông xả trực tiếp từ mũi ra ngoài.
Vận khí từ Đan-điền lên Tâm, ngưng thở (nửa nhịp đầu) để Tâm khí phát sinh, quán khí xuống Tiểu trường, ngưng thở (nửa nhịp cuối) thông xả mạnh ra hai lòng bàn chân. Trở lại quán khí từ Tỳ lên Tâm, tập trung tại Tâm (Tâm khí phát sinh), quán chuyển từ Tâm đến hệ huyết mạch, thông xả mạnh ra lòng bàn chân bàn tay. Tiếp tục quán khí từ Đan-điền lên Tâm, tập trung tại Tâm (Tâm khí phát sinh), quán chuyển từ Tâm lên lưỡi, ngưng thở há miệng, thông xả trực tiếp ra ngoài, ngậm miệng trở lại.
Vận khí từ Đan-điền sang Thận, nín thở tập trung tại Thận, xả khí theo đường kinh xuống lòng bàn chân trái, ngưng thở thông xả mạnh ra ngoài. Trở lại quán khí từ Đan-điền xuống Thận, nín thở để Thận khí phát sinh, quán chuyển từ Thận xuống tụ tại Bàng quang, ngưng thở (nửa nhịp đầu) xả khí theo đường kinh xuống hai lòng bàn chân, ngưng thở (nửa nhịp cuối) thông xả mạnh ra ngoài. Tiếp tục quán khí từ Đan-điền xuống Thận, ngưng thở để Thận khí phát sinh, quán lên hai lỗ tai, ngưng thở tập trung tại tai thông xả trực tiếp ra ngoài.
Vận khí từ Đan-điền lên Tâm bào lạc, ngưng thở để Nhiệt Tâm khí phát sinh (cảm giác nóng rực vùng Tâm bào), quán chuyển từ Tâm bào qua huyệt Đản trung ra lòng bàn tay phải, thông xả mạnh ra ngoài. Trở lại quán khí từ Đan-điền lên Tâm bào, ngưng thở lần lượt quán chuyển vào Thượng tiêu (lồng ngực), Trung tiêu (thượng vị), Hạ tiêu (bụng dưới) sau đó thông xả mạnh ra hai lòng bàn chân (khi quán vào Tam tiêu chỉ tiến hành trong một nhịp thở ra). Tiếp tục quán khí từ Đan-điền lên Tâm bào, ngưng thở để Nhiệt Tâm khí phát sinh, tán khí từ Tâm bào ra toàn bộ cơ thể và thông xả mạnh ra lòng bàn chân bàn tay. Lại quán khí từ Đan-điền lên Tâm bào, ngưng thở... , thở ra quán khí từ Tâm bào lên tụ tại vùng răng lợi, ngưng thở há miệng, thông xả trực tiếp ra ngoài, ngậm miệng trở lại.
Vận khí từ Đan-điền xuống tụ tại Can, xả khí theo Can kinh xuống lòng bàn chân phải, ngưng thở thông xả mạnh ra ngoài. Trở lại quán khí từ Đan-điền bào xuống Can, nín thở để Can khí phát sinh, thở ra quán chuyển xuống tụ tại Đởm, quán chuyển theo kinh mạch xuống lòng bàn chân phải, ngưng thở thông xả mạnh ra ngoài. Tiếp tục quán từ Đan-điền xuống Can, nín thở... , thở ra quán chuyển lên tụ tại mắt, ngưng thở mở mắt thông xả trực tiếp ra ngoài, nhắm mắt trở lại.
Vận khí từ Đan-điền xuống Can, quán tụ từ Can trở lại Đan-điền, thu khí Bách-hội theo mạch Nhâm đi xuống tụ tại Đan-điền, nín thở để Chân khí phát sinh, quán chuyển ra Mệnh-môn theo mạch Đốc đi lên tụ tại Ngọc-chẩm, thông xả ra ấn đường, Bách-hội. Trở lại quán khí từ Đan-điền ra mạch Đốc và xả khí toàn thân. Điều hòa hô hấp trở lại, thanh khí toàn bộ cơ thể. Từ... từ... dừng... lại...
Lưu ý : Khi luyện đến vùng có liên quan tới bệnh lý thì lặp lại đoạn đó và tập trung vào vùng bệnh, nhưng bắt buộc phải luyện đúng và đủ cả bài.
Trình tự trong một bước hành Nội-Chu-thiên : Thông tạng - Thông phủ - Thông hệ - Thông khiếu

_________________
Đừng vội tin, cũng đừng vội phủ nhận!
http://vn.myblog.yahoo.com/tinhkhicong


Ngoại tuyến
   
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Các công pháp luyện KC thế hệ 1 - Phần 2: Công pháp
Gửi bàiĐã gửi: 09 Tháng 10 2010 10:35 
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 25 Tháng 8 2009 01:41
Bài viết: 271
Nguyên tắc cân bằng âm - dương nhờ hai bàn tay

1/. ý nghĩa : Nguyên tắc này sử dụng hai bàn tay để cân bằng âm - dương và bổ trợ Nội khí (trong-ngoài, phải- trái, trên-dưới, trước-sau) có giá trị tự chữa bệnh và chữa bệnh rất hiệu quả khi sử dụng các bài Đan-điền công và Thanh khí công.
2/. Nguyên tắc cơ bản : Tay trái đặt vào Đan-điền, tay phải đặt vào vùng bệnh hay vùng cần trợ khí.
3/. Các nguyên tắc bổ sung :
• Trong các trường hợp cảm giác khí động và cảm giác bệnh lý tăng lên, thì sau một lúc đảo tay lại (tay phải đặt vào Đan-điền, tay trái đặt vào vùng bệnh) là có hiệu quả ngay.
• Trường hợp cần xả khí tay nào thì tay kia đặt vào vùng bệnh.
• Trường hợp vùng bệnh không thể dùng bàn tay phải thì đặt tay phải vào Đan-điền và tay trái vào vùng bệnh, sau đó nên sử dụng Thanh khí công với nguyên tắc bổ sung thứ 2.
• Trong trường hợp vùng bệnh thể hiện thành đường, hay muốn thông khí tốt đường xả ra chân; thì một tay đặt vào vùng bệnh, tay kia vuốt nhẹ (trong nhịp thở ra của bài Thanh khí công) trên chân theo đường (kinh lạc) đến vị trí cần xả (huyệt Dũng-tuyền).
* Lưu ý :
- Trong một buổi tập, sau khi luyện Nhập khí công thì sử dụng Đan-điền công với nguyên tắc cơ bản, sau đó luyện Thanh khí công với các nguyên tắc bổ sung.
- Các nguyên tắc này hoàn toàn có thể sử dụng để bổ trợ chữa bệnh cho người khác (nếu người đó đồng bộ luyện khí thì rất tốt), trong lúc đó vẫn luyện khí như bình thường và coi bộ vị tương ứng với bệnh của người khác làm vùng luyện khí, và tập trung quán tưởng về nơi đó và từ nơi đó. Nhưng sau đó phải luyện Đan-điền công và Thanh khí công một mình để loại trừ mọi khả năng không tốt.
4/. Xác định thể bệnh theo nguyên tắc cân bằng âm-dương:
Bệnh vượng là dạng "dương hữu dư ", bệnh suy là "âm bất túc".
Đặt hai bàn tay theo nguyên tắc cân bằng âm - dương :
- Vùng bệnh nóng hơn Đan-điền => dương bệnh.
- Vùng bệnh lạnh (mát) hơn Đan-điền => âm bệnh.
- Thấy khi đi từ vùng bệnh vào tay phải => bệnh vượng.
- Thấy khi đi từ tay phải ra (hoặc từ Đan-điền ra tay trái sang tay phải) vùng bệnh => bệnh suy.
Kết hợp các trạng thái trên sẽ xác định được thể bệnh là dương vượng hay dương suy, âm vượng hay âm suy. Đồng thời kết hợp theo vòng Chu thiên để định bệnh. Trên cơ sở đó có phác đồ điều trị thích hợp.

_________________
Đừng vội tin, cũng đừng vội phủ nhận!
http://vn.myblog.yahoo.com/tinhkhicong


Ngoại tuyến
   
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Các công pháp luyện KC thế hệ 1 - Phần 2: Công pháp
Gửi bàiĐã gửi: 09 Tháng 10 2010 10:37 
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 25 Tháng 8 2009 01:41
Bài viết: 271
TIỂU CHU THIÊN

I. Tiểu chu thiên là gì :
Tiểu chu thiên là vòng khí vận hành chu lưu trong ngày theo thứ tự của nội tạng trong cơ thể như sau : Khí bắt đầu từ Phế, rồi xuống Đại trường, lên Vị, rồi xuống Tỳ, lên Tâm, rồi xuống Tiểu trường, tới Bàng quang, rồi tới Thận, lên Tâm Bào, rồi xuống Tam tiêu, tới Đởm, rồi xuống Can.
Tiểu chu thiên pháp có tác dụng điều hoà, phục hồi nội tạng rất tốt.
II. Luyện Tiểu chu Thiên cơ bản:
- Thu khí vào Bách hội, theo mạch nhâm xuống Sinh khí ở Đan điền, đưa lên tụ Khí ở Phế ( nếu cần thì xả ra hai tay ), dồn xuống tụ khí ở Đại trường.
- Thu khí vào Bách hội, theo mạch nhâm xuống Sinh khí ở Đan điền đưa tới tụ Khí ở Đại trường ( nếu cần thì xả ra hai chân ), dồn tới tụ khí ở Vị.
- Thu khí vào Bách hội, theo mạch nhâm xuống Sinh khí ở Đan điền đưa tới tụ Khí ở Vị ( nếu cần thì xả ra chân trái ), dồn tới tụ khí ở Tỳ.
- Thu khí vào Bách hội, theo mạch nhâm xuống Sinh khí ở Đan điền đưa tới tụ Khí ở Tỳ ( nếu cần thì xả ra chân trái ), dồn tới tụ khí ở Tâm.
- Thu khí vào Bách hội, theo mạch nhâm xuống Sinh khí ở Đan điền đưa tới tụ Khí ở Tâm ( nếu cần thì xả ra tay trái ), dồn tới tụ khí ở Tiểu trường.
- Thu khí vào Bách hội, theo mạch nhâm xuống Sinh khí ở Đan điền đưa tới tụ Khí ở Tiểu trường ( nếu cần thì xả ra hai chân ), dồn tới tụ khí ở Bàng quang.
- Thu khí vào Bách hội, theo mạch nhâm xuống Sinh khí ở Đan điền, đưa lên tụ Khí ở Bàng quang ( nếu cần thì xả ra hai chân ), dồn xuống tụ khí ở Thận.
- Thu khí vào Bách hội, theo mạch nhâm xuống Sinh khí ở Đan điền đưa tới tụ Khí ở Thận ( nếu cần thì xả ra hai chân ), dồn tới tụ khí ở Tâm bào.
- Thu khí vào Bách hội, theo mạch nhâm xuống Sinh khí ở Đan điền đưa tới tụ Khí ở Tâm bào ( nếu cần thì xả ra tay phải ), dồn tới tụ khí ở thượng tiêu.
- Thu khí vào Bách hội, theo mạch nhâm xuống Sinh khí ở Đan điền đưa tới tụ Khí ở Thượng tiêu, dồn xuống tụ ở Trung tiêu, dồn xuống tụ ở Hạ tiêu ( nếu cần thì xả ra hai chân ), dồn tới tụ khí ở Đởm.
- Thu khí vào Bách hội, theo mạch nhâm xuống Sinh khí ở Đan điền đưa tới tụ Khí ở Đởm ( nếu cần thì xả ra chân phải ), dồn tới tụ khí ở Can.
- Thu khí vào Bách hội, theo mạch nhâm xuống Sinh khí ở Đan điền đưa tới tụ Khí ở Can ( nếu cần thì xả ra chân phải ), dồn tới tụ khí ở Đan điền.
- Thu khí vào Bách hội, theo mạch nhâm xuống Sinh khí ở Đan điền đưa ra mạch Đốc thông xả lên Bách Hội.

III. Luyện Tiểu chu thiên theo thời gian:
- Từ 3 giờ đến 5 giờ bắt đầu từ Đan Điền -> Phế -> Đại trường -> Vị -> Tỳ -> Tâm -> Tiểu trường -> Bàng quang ->Thận -> Tâm bào -> Tam tiêu -> Đởm -> Can -> Đan điền.
- Từ 5 giờ đến 7 giờ bắt đầu từ Đan Điền -> Đại trường -> Vị -> Tỳ -> Tâm -> Tiểu trường -> Bàng quang ->Thận -> Tâm bào -> Tam tiêu -> Đởm -> Can -> Phế -> Đan điền.
- Từ 7 giờ đến 9 giờ bắt đầu từ Đan Điền -> Vị -> Tỳ -> Tâm -> Tiểu trường -> Bàng quang ->Thận -> Tâm bào -> Tam tiêu -> Đởm -> Can-> Phế -> Đại trường -> Đan điền.
- Từ 9 giờ đến 11 giờ bắt đầu từ Đan Điền -> Tỳ -> Tâm -> Tiểu trường -> Bàng quang ->Thận -> Tâm bào -> Tam tiêu -> Đởm -> Can -> Phế -> Đại trường -> Vị -> Đan điền.
- Từ 11 giờ đến 13 giờ bắt đầu từ Đan Điền -> Tâm -> Tiểu trường -> Bàng quang ->Thận -> Tâm bào -> Tam tiêu -> Đởm -> Can-> Phế -> Đại trường -> Vị -> Tỳ -> Đan điền.
- Từ 13 giờ đến 15 giờ bắt đầu từ Đan Điền -> Tiểu trường -> Bàng quang ->Thận -> Tâm bào -> Tam tiêu -> Đởm -> Can -> Phế -> Đại trường -> Vị -> Tỳ -> Tâm -> Đan điền.
- Từ 15 giờ đến 17 giờ bắt đầu từ Đan Điền -> Bàng quang ->Thận -> Tâm bào -> Tam tiêu -> Đởm -> Can-> Phế -> Đại trường -> Vị -> Tỳ -> Tâm -> Tiểu trường -> Đan điền.
- Từ 17 giờ đến 19 giờ bắt đầu từ Đan Điền ->Thận -> Tâm bào -> Tam tiêu -> Đởm -> Can-> Phế -> Đại trường -> Vị -> Tỳ -> Tâm -> Tiểu trường -> Bàng quang -> Đan điền.
- Từ 19 giờ đến 21 giờ bắt đầu từ Đan Điền -> Tâm bào -> Tam tiêu -> Đởm -> Can-> Phế -> Đại trường -> Vị -> Tỳ -> Tâm -> Tiểu trường -> Bàng quang ->Thận -> Đan điền.
- Từ 21 giờ đến 23 giờ bắt đầu từ Đan Điền -> Tam tiêu -> Đởm -> Can -> Phế -> Đại trường -> Vị -> Tỳ -> Tâm -> Tiểu trường -> Bàng quang ->Thận -> Tâm bào -> Đan điền.
- Từ 23 giờ đến 1 giờ bắt đầu từ Đan Điền -> Đởm -> Can -> Phế -> Đại trường -> Vị -> Tỳ -> Tâm -> Tiểu trường -> Bàng quang ->Thận -> Tâm bào -> Tam tiêu -> Đan điền.
- Từ 1 giờ đến 3 giờ bắt đầu từ Đan Điền -> Can -> Phế -> Đại trường -> Vị -> Tỳ -> Tâm -> Tiểu trường -> Bàng quang ->Thận -> Tâm bào -> Tam tiêu -> Đởm -> Đan điền.
Phương pháp xác định dạng bệnh
và thời gian tự điều trị :
Theo sự vận hành của chu thiên chúng ta có thể đưa ra phương pháp trị liệu đơn giản và hiệu quả như sau :
a- Trạng thái khí :
Theo Chu thiên khí có ba trạng thái hoạt động như sau :
- Vượng : là khí tập trung nhiều và mạnh.
- Suy : là khí tán đi và yếu.
- Hư : là rối loạn, thay đổi trạng thái.
b- Xác định dạng Bệnh :
Chúng ta xác định dạng bệnh như sau :
- Đau nặng ở giờ Vượng là bệnh Vượng.
- Đau nặng ở giờ Suy là bệnh Suy
- Đau nặng ở giờ Hư là bệnh Hư.
c- Nguyên tắc điều trị :
Chúng ta luyện khí điều trị như sau :
- Bệnh Vượng chữa giờ Suy.
- Bệnh Suy chữa giờ Vượng .
- Bệnh Hư chữa giờ Hư.
d- Bảng xác định dạng theo vùng bệnh :
- căn cứ theo vùng Bệnh ta sẽ biết dạng bệnh theo giờ đau.
- Căn cứ theo giờ ta sẽ biết vùng cần theo dõi sẽ mạnh
( vượng ), yếu ( suy ), loạn ( hư ) lúc nào để phòng chống
Tập tin đính kèm:
VuongsuyTangphu.jpg
VuongsuyTangphu.jpg [ 538.16 KiB | Đã xem 3667 lần. ]

e- Bảng xác định dạng theo giờ
- Căn cứ theo giờ ta sẽ biết thời gian và dạng bệnh ở đâu.
- Căn cứ theo vùng cần theo dõi Ta sẽ biết thời gian và dạng bệnh để phòng chống.


Tập tin đính kèm:
Benhthoi.jpg
Benhthoi.jpg [ 283.7 KiB | Đã xem 3667 lần. ]

_________________
Đừng vội tin, cũng đừng vội phủ nhận!
http://vn.myblog.yahoo.com/tinhkhicong
Ngoại tuyến
   
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Các công pháp luyện KC thế hệ 1 - Phần 2: Công pháp
Gửi bàiĐã gửi: 09 Tháng 10 2010 10:38 
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 25 Tháng 8 2009 01:41
Bài viết: 271
NGŨ HÀNH CÔNG

I.Ngũ hành Khí :
Ngũ hành Khí là Khí phát ra khi chân khí tác động vào ngũ tạng phát ra. Chính vì vậy Ngũ khí có tính năng sinh học rất cao. Trong dưỡng sinh Khí công Ngũ hành công có giá trị tự chữa bệnh rất tốt.
Ngũ hành công có tác dụng đặc biệt trong các chứng bệnh nội tạng, cũng như dùng đơn khí để cân bằng đa khí trong toàn bộ cơ thể.
Ngũ khí có các đặc tính cần biết như sau :
- Tâm khí : có tính nhiệt, cảm giác nóng, mầu sắc đỏ tươi, phù hợp với lửa và trời nóng.
- Can khí : có tính phong điện, cảm giác Tê, mầu sắc xanh lá cây, phù hợp với cây cối và trời gió.
- Tỳ khí có: tính Thấp ( ẩm ), cảm giác nặng, mầu sắc vàng chanh, phù hợp với đất đá và trời mưa ẩm.
- Phế khí : có tính Táo ( khô ), cảm giác nhẹ, mầu sắc Trắng bạc, phù hợp với kim loại và trời hanh khô.
- Thận khí : có tính hàn, cảm giác mát lạnh, mầu sắc đen tuyền, phù hợp với nước và trời lạnh.
Trong luyện tập khí công nếu chúng ta tận dụng các đặc tính trên thì tác dụng rất cao. Ví dụ luyện khí cho Tâm chúng ta luyện với khí nóng, màu đỏ với Tác nhân là lửa trong trời nóng thì tác dụng rất cao.
Tác nhân là đối tượng có tính năng phát khí mà chúng ta luyện tập đối diện sẽ hiệu quả tốt hơn là luyện chung chung.
Màu sắc của khí sẽ phản ánh trên trán, mà chúng ta căn cứ vào đó để xác định hiệu quả thực tế rất tốt ( còn gọi là khả năng khí quang ).

II. Hệ thống kinh mạch theo ngũ hành công :
1- Phế hệ
- Phế kinh : chạy từ Phế ra phía trên mặt trong 2 cánh tay ra đến ngón tay cái.
- Đại trường kinh : chạy từ ngón tay trỏ theo phía trên mặt ngoài của tay vào hõm vai xuống Đại tràng.
2-Tỳ hệ
- Tỳ kinh : chạy từ Tỳ xuống phía trước mặt trong của chân trái xuống đến ngón chân cái.
- Vị kinh : chạy từ ngón chân thứ hai theo chính giữa mặt trước cuả chân trái lên hông sườn vào Dạ dầy.
3- Tâm hệ
- Tâm kinh : chạy từ Tâm ra mép dưới mặt trong cánh tay trái xuống ngón út.
- Tiểu trường kinh : chạy từ ngón tay út theo phía dưới mặt ngoài tay trái lên hõm vai xuống Tiểu trường.
4- Thận hệ
- Thận kinh : chạy từ Thận theo phía sau mặt trong 2 chân xuống lòng bàn chân.
- Bàng quang kinh : chạy từ ngón út của chân theo chính giữa mặt sau của chân lên hố chậu vào Bàng quang.
5- Tâm bào hệ
- Tâm bào kinh : chạy từ Tâm bào ra chính giữa mặt trong của tay phải đến tận ngón giữa.
- Tam Tiêu kinh : chạy từ ngón áp út theo chính giữa mặt ngoài của tay phải, lên hõm vai xuống Tam tiêu.
6- Can hệ
- Can kinh : Chạy từ Can theo chính giữa mặt trong của chân phải ra ngón chân cái.
- Đởm kinh : chạy từ ngón chân áp út theo chính giữa mặt ngoài của chân phải lên hông sườn vào Đởm.

III. Ngũ hành công
1. Tâm công.
Thu khí Nóng - Đỏ vào Bách Hội theo mạch nhâm xuống sinh khí ở Đan điền, dồn tới tụ ở Tâm sinh Tâm khí, quán dẫn Tâm khí theo Tâm kinh (mép dưới mặt trong cánh táy trái) đi ra đầu ngón tay út, quán lên mu bà̉n tay theo Tiểu trường kinh lên hõm vai xuống tu sinh khí tại Tiểu trường, dồn khí từ Tiểu trường về Tâm, sau đó lựa chọn các mục đích sau :
a- Thông Máu :
Dồn tới vùng cần thông máu, thông xả tương ứng.
b- Thông Hàn :
Dồn tới vùng lạnh cho nóng lên, thông xả tương ứng.
c- Thông Tâm :
dồn xuống Đan điền, đưa ra sau mạch đốc xả lên Bách hội.

2. Can công.
Thu khí Tê - Xanh vào Bách Hội theo mạch nhâm xuống sinh khí ở Đan điền, dồn tới tụ khí ở Can, theo Can kinh đi ra đầu ngón chân cái bên phải ( nếu cần thì xả ), theo ngón chân áp út lên Đởm kinh lên hông tới Đởm ( nếu cần thì xả chân phải ), dồn khí từ Đởm về Can, sau đó lựa chọn các mục đích sau :
a- Thông Gân :
Dồn tới vùng cần thông Gân, thông xả tương ứng.
b- Thông Kết :
Dồn tới vùng Kết cho tê đi, thông xả tương ứng.
c- Thông Can :
dồn xuống Đan điền, đưa ra sau mạch đốc xả lên Bách hội.

3. Tỳ công.
Thu khí ẩm - vàng vào Bách Hội theo mạch nhâm xuống sinh khí ở Đan điền, dồn tới tụ khí ở Tỳ, theo Tỳ kinh đi ra đầu ngón chân caí bên trái ( nếu cần thì xả ), theo ngón chân thứ hai vào Vị kinh lên bụng vào Vị ( nếu cần thì xả ), dồn khí từ Vị về Tỳ, sau đó lựa chọn các mục đích sau :
a- Thông Cơ :
Dồn tới vùng cần thông cơ, thông xả tương ứng.
b- Thông loạn :
Dồn tới vùng loạn cho định lại, thông xả tương ứng.
c- Thông Tỳ :
dồn xuống Đan điền, đưa ra sau mạch đốc xả lên Bách hội.

4. Phế công :
Thu khí Khô - Trắng vào Bách Hội theo mạch nhâm xuống sinh khí ở Đan điền, dồn tới tụ khí ở Phế, theo Phế kinh đi ra đầu ngón tay cái ( nếu cần thì xả ), theo ngón Trỏ vào Đại trường kinh lên hõm vai xuống Đại trường ( nếu cần thì xả ), dồn khí từ Đại trường về Phế, sau đó lựa chọn các mục đích sau :
a- Thông hơi :
Dồn tới vùng cần thông Hơi, thông xả tương ứng.
b- Thông suy :
Dồn tới vùng suy cho mạnh lên, thông xả tương ứng.
c- Thông Phế :
dồn xuống Đan điền, đưa ra sau mạch đốc xả lên Bách hội.

5. Thận công :
Thu khí Lạnh - Đen vào Bách Hội theo mạch nhâm xuống sinh khí ở Đan điền, dồn tới tụ khí ở Thận, theo Thận kinh đi xuống lòng bàn chân ( nếu cần thì xả ), theo ngón chân út vào Bàng quang kinh lên hố chậu vào Bàng quang (nếu cần thì xả ), dồn khí từ Bàng quang về Thận, sau đó lựa chọn các mục đích sau :
d- Thông Xương :
Dồn tới vùng Xương cần thông, thông xả tương ứng.
e- Thông Nhiệt :
Dồn tới vùng nóng cho mát đi, thông xả tương ứng.
f- Thông Thận :
dồn xuống Đan điền, đưa ra sau mạch đốc xả lên Bách hội.

6. Tâm bào công.
Thu khí Nóngbức – Đỏ rực vào Bách Hội theo mạch nhâm xuống sinh khí ở Đan điền, dồn tới tụ khí ở Tâm bào, theo Tâm bào kinh đi ra đầu ngón tay giữa ( nếu cần thì xả ), theo Tam tiêu kinh lên hõm vai xuống Thượng tiêu, xuống Trung tiêu, xuống Hạ tiêu ( nếu cần thì xả ), dồn khí từ Hạ tiêu về Tâm bào, sau đó lựa chọn các mục đích sau :
g- Thông Máu :
Dồn tới vùng cần thông máu, thông xả tương ứng.
h- Thông Hàn :
Dồn tới vùng lạnh cho nóng lên, thông xả tương ứng.
i- Thông Tâm :
dồn xuống Đan điền, đưa ra sau mạch đốc xả lên Bách hội

_________________
Đừng vội tin, cũng đừng vội phủ nhận!
http://vn.myblog.yahoo.com/tinhkhicong


Ngoại tuyến
   
 
Hiển thị bài viết cách đây:  Sắp xếp theo  
Tạo chủ đề mới Gửi bài trả lời  [ 14 bài viết ]  Chuyển đến trang Trang vừa xem  1, 2

Múi giờ UTC + 7 Giờ


 Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào trực tuyến.1 khách.


Bạn không thể tạo chủ đề mới.
Bạn không thể trả lời bài viết.
Bạn không thể sửa những bài viết của mình.
Bạn không thể xóa những bài viết của mình.
Bạn không thể gửi tập tin đính kèm.

Tìm với từ khóa:
Chuyển đến:  
 
cron