Hôm nay, 18 Tháng 7 2018 13:55

Múi giờ UTC + 7 Giờ




Tạo chủ đề mới Gửi bài trả lời  [ 4 bài viết ] 
Người gửi Nội dung
 Tiêu đề bài viết: Lượm lặt
Gửi bàiĐã gửi: 13 Tháng 11 2011 11:00 

Ngày tham gia: 24 Tháng 10 2011 17:15
Bài viết: 31
Tam Bành - Lục tặc

三彭 - 六賊
Tam: Ba, số 3, thứ ba. Bành: họ Bành - Lục: sáu. Tặc: kẻ trộm.


■ Tam Bành là 3 vị ác thần họ Bành, tên của 3 vị các sách chép không thống nhứt nhau: Bành Chất, Bành Cư (Cứ, Cử, Sư), Bành Kiêu (Kiểu, Kiều, Kiển, Hiên).
Theo Lão giáo, 3 vị ác thần nầy ở vào ba vị trí trong thân thể con người: Bành Cư ở tại thượng tiêu, Bành Chất ở tại trung tiêu và Bành Kiêu ở tại hạ tiêu, nên 3 vị ác thần nầy còn được gọi là Tam Thi Thần.
Theo sách Thái Thượng Tam Thi trung kinh, Tam Bành thường xúi giục con người làm bậy. Đến ngày Canh Thân, Tam Bành lên tâu Thượng Đế xin trừng phạt cho con người mau chết để Tam Bành khỏi theo dõi nữa. Người ta tin rằng, những sự nóng nảy, giận dữ của con người là do Tam Bành xúi giục gây nên, để con người mất hết sáng suốt và làm điều sai trái. Cho nên khi thấy ai giận dữ thì nói là nổi Tam Bành.
Trong phép luyện đạo, Tam Thi Thần là 3 con quỉ, trấn tại thượng tiêu, trung tiêu và hạ tiêu. Chúng trấn ba cửa ải ấy để cho Thần và Khí không được giao thông với Càn Khôn thăng giáng. Người luyện đạo phải tịnh tâm thiền định để kềm chế Tam Thi Thần mà khai thông tam tiêu cùng cửu khiếu thì mới đắc đạo được.

■ Lục tặc là 6 tên trộm cướp luôn luôn rình rập để cướp đi các công đức của người tu hành. Lục tặc chính là Lục trần, tức là 6 cảnh hấp dẫn của cõi trần làm cho con người mê đắm vào. Đó là: Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp.
Đây là cách nói ví của Đức Phật giảng giải cho người tu dễ hiểu. Phật ví Lục trần (Lục ngoại nhập) như 6 tên trộm cướp, luôn luôn tìm cách khêu gợi Lục căn của con người, để Lục Căn sanh ra Lục dục mà xao lãng hay bỏ bê việc gìn giữ giới luật tu hành.
Đức Phật khuyên người tu phải giữ gìn cẩn thận Lục căn (Nhãn, Nhĩ, Tỹ, Thiệt, Thân, Ý), làm cho nó như xóm nhà trống không, không có của cải chi hết, để khi Lục tặc xâm nhập vào thì nó không vơ vét được gì cả. Ý của Đức Phật nói rằng: người tu gìn giữ Lục căn cho trong sạch, cao thượng, để Lục tặc không thể cướp mất công đức của mình.
Ai giữ được như vậy thì dứt phiền não, đắc đạo.

Con người, một khi để cho Tam Bành dấy lên, Lục tặc xâm nhập, tất nguy khốn cho thân mạng, hư hỏng việc tu hành. Muốn đắc đạo thì phải kềm chế chặt chẽ Tam Bành, gìn giữ Lục căn, không cho Lục tặc xâm nhập.

(Sưu tầm)
http://www.tkcsaigon.vn/newsdetail.php?id=473&catid=1065


Ngoại tuyến
   
 
 Tiêu đề bài viết: Đức Phật phủ nhận nương nhờ tha lực
Gửi bàiĐã gửi: 26 Tháng 12 2011 22:24 

Ngày tham gia: 24 Tháng 10 2011 17:15
Bài viết: 31
Đức Phật phủ nhận nương nhờ tha lực

Một ngày nọ có chàng trẻ tuổi vừa buồn vừa khóc, tìm đến Đức Phật. Đức Phật hỏi, "Cái gì sai trái đã làm nhà ngươi khóc?"

"Thưa Ngài, cha con chết ngày hôm qua."

"Thì nhà ngươi làm gì được? Ông ấy đã chết rồi, buồn khóc chẳng thể làm ông ấy sống lại."

"Vâng, thưa Ngài, con hiểu điều đó; buồn khóc chẳng thể làm cho cha con trở về với con. Nhưng con đến đây cầu xin Ngài một điều: xin Ngài hoan hỷ làm một điều gì đó cho người cha quá vãng của con!"

"Vậy ta có thể làm gì giúp cho cha con?"

"Thưa ngài, xin ngài làm một cái gì đó. Ngài là đấng toàn năng, chắc chắn ngài có thể làm được. Ngài hãy xem, các vị tu sĩ cúng tế, các thầy phát giấy xá tội, đã cử hành những nghi thức cúng lễ cầu siêu giúp người quá cố. Và nghi thức cúng tế cầu siêu nếu được tổ chức sớm ở đây, thì cánh cửa trên thiên giới sẽ được mở ra sớm và người quá cố sẽ được siêu thăng về nơi đó. Họ sẽ nhận được giấy nhập cảnh. Thưa Ngài, Ngài là đấng toàn năng, Ngài có đầy đủ quyền lực! Nếu Ngài chủ tế nghi thức cầu siêu cho cha con, cha con không những nhận được giấy nhập cảnh nơi thiên quốc mà ông ấy sẽ được ở thường trú luôn. Thưa Ngài, xin Ngài hoan hỷ giúp cha con!"

Biết rằng chàng trai trẻ tràn ngập nỗi đau khổ chắc khó có thể hiểu được những lý lẽ phải trái trong lúc này, nên Đức Phật đã phải dùng một phương tiện khác giúp cho chàng ta hiểu. Vì thế Phật nói: "Nhà ngươi hãy đi mua hai cái chậu đất nung." Chàng trẻ tuổi lấy làm sung sướng, nghĩ rằng Đức Phật đã nhận lời làm lễ cầu siêu cho cha hắn và đã tức tốc đi chợ mua hai cái chậu bằng đất nung.

"Được rồi," Phật nói, "đổ vào chậu thứ nhất đầy đá cuội, chậu thứ hai đầy bơ " Chàng trẻ tuổi làm y như lời Phật dạy.

"Bây giờ bịt miệng cả hai chậu lại, xong bỏ xuống hồ nước". Chàng trai trẻ làm xong, hai chậu chìm xuống dưới đáy hồ.

"Bây giờ" Phật nói, "đem cái gậy ra đây, chọc bể cả hai chậu." Chàng trẻ tuổi rất lấy làm sung sướng, nghĩ rằng đức Phật đã cử hành nghi lễ cầu siêu cho cha hắn.

Theo tập quán cổ truyền cổ Ấn Độ, khi người cha chết, người con làm lễ hỏa táng. Vào khoảng giữa thời gian thiêu, người con dùng cây gậy thọc và làm vỡ sọ đầu. Cũng theo niềm tin cổ truyền của họ, cho đến khi sọ đầu được mở ra nơi trần gian này thì cánh cửa thiên giới cũng được mở ra. Vì thế chàng trẻ tuổi tự nghĩ là, "Cha ta đã được thiêu đốt ngày hôm quạ Như là một biểu tượng, đức Phật muốn mình làm vỡ các chậu ngày hôm nay!" Chàng cảm thấy sung sướng nhiều với nghi thức này của Đức Phật.

Chàng trẻ tuổi đã dùng cây gậy làm bể hai chậu. Lập tức, chậu đựng bơ bị vỡ, bơ nổi lênh láng trên mặt hồ nước. Chậu kia đựng những hòn đá cuội vẫn nằm yên dưới đáy hồ. Rồi Đức Phật nói, "Chàng trẻ tuổi, đó là những gì ta đã làm. Bây giờ hãy mời các thầy cúng tế và nói với họ hãy tụng kinh và cầu nguyện: "Hỡi các viên đá cuội, hãy nổi lên, hãy nổi lên! Hỡi bơ ơi, hãy chìm xuống, chìm xuống! Hãy cho chúng ta xem sự kiện xảy ra. "

"Ồ, thưa Ngài, Ngài nói đùa với con! Không thể nào như thế được, những viên đá cuội
nặng hơn nước, chúng chìm xuống đáy. Chúng chẳng thể bao giờ nổi lên được. Đây là định luật tự nhiên! Và thưa Ngài, bơ nhẹ hơn nước, chúng nổi lên mặt nước, chẳng bao giờ có thể chìm xuống được. Đây là định luật tự nhiên."

"Chàng trẻ tuổi, nhà ngươi biết nhiều về định luật tự nhiên, nhưng nhà ngươi đã không hiểu về định luật tự nhiên này. Nếu trong suốt cuộc đời của cha nhà ngươi mà ông ấy đã làm những điều nặng như những viên đá cuội, cha nhà ngươi sẽ bị đọa, ai có thể giúp cha nhà ngươi siêu thoát lên trên được? Và nếu tất cả việc làm của cha ngươi nhẹ như bơ, ông ấy sẽ được siêu thoát; ai có thể đè ông ta xuống được?"

Nếu chúng ta hiểu định luật tự nhiên và sống theo luật tự nhiên này, chúng ta sẽ vượt thoát khỏi những khổ đau và bất hạnh của cuộc đời.

<sưu tầm>


Ngoại tuyến
   
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Lượm lặt
Gửi bàiĐã gửi: 04 Tháng 1 2013 15:21 
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 26 Tháng 8 2009 23:03
Bài viết: 1843
Đến từ: Hà nội
Thiền là gì?


Phật Gautam, người sáng lập ra Thiền, người sáng lập ra tất cả những kĩ thuật thiền vĩ đại trên thế giới, định nghĩa nó trong một từ. Một hôm ai đó hỏi ông ấy, "Thiền là gì? Tất cả về nó là gì?" Và Phật Gautam nói mỗi một lời, ông ấy nói: DỪNG.! Đó là định nghĩa của ông ấy về thiền. Ông ấy nói, "Nếu nó dừng, nó là thiền." Câu đầy đủ là: "Tâm trí điên khùng không dừng. Nếu nó dừng, đó là thiền."

Tâm trí điên khùng không dừng - nếu nó dừng, đó là thiền. Thiền là trạng thái của nhận biết vô ý nghĩ. Thiền là trạng thái của nhận biết vô xúc động, vô đa cảm, vô suy nghĩ. Khi bạn đơn giản nhận biết, khi bạn trở thành cột trụ của nhận biết. Khi bạn đơn giản thức tỉnh, tỉnh táo, chăm chú. Khi bạn chỉ là nhận biết thuần khiết.

Làm sao đi vào trong nó? Thiền nhân có một từ đặc biệt cho việc đi vào, họ gọi nó là hua t'ou (thủ ngôn). Từ tiếng Trung Quốc này nghĩa là trước ý nghĩ, hay trước lời. Tâm trí, trước khi nó bị khuấy động bởi một ý nghĩ, được gọi là hua t'ou. Giữa hai ý nghĩ có lỗ hổng; lỗ hổng đó được gọi là hua t'ou.

Hãy quan sát. Ý nghĩ này trôi qua trên màn ảnh tâm trí bạn - trên màn hình rada của tâm trí bạn một ý nghĩ thoáng qua như đám mây. Đầu tiên nó là mông lung - nó đang tới, nó đang tới - thế rồi nó có đó bỗng nhiên nổi ra trên màn hình. Thế rồi nó đi, thế rồi nó đã ra khỏi màn hình, lần nữa nó trở thành mơ hồ và biến mất... Ý nghĩ khác tới. Giữa hai ý nghĩ này có lỗ hổng - trong một khoảnh khắc hay một phần giây màn ảnh không có ý nghĩ nào.

Trạng thái đó của vô ý nghĩ thuần khiết được gọi là hua t'ou (thủ ngôn) - trước lời, trước ý nghĩ, trước khi tâm trí bị khuấy động. Bởi vì chúng ta không tỉnh táo bên trong, chúng ta cứ bỏ lỡ nó - bằng không thiền đang xảy ra từng khoảnh khắc rồi. Bạn chỉ phải thấy nó xảy ra, bạn chỉ phải trở nên nhận biết về kho báu nào bạn bao giờ cũng đang mang bên trong mình. Không phải là thiền phải được đem tới từ đâu đó khác. Thiền có đó, hạt mầm có đó. Bạn chỉ phải nhận ra nó, nuôi dưỡng nó, chăm sóc nó, và nó bắt đầu phát triển.

Khoảng hở giữa hai ý nghĩ chính là hua t'ou. Và đó là cánh cửa đi vào trong thiền. Hua t'ou (thủ ngôn) - thuật ngữ này theo từng từ nghĩa là "đầu lời". "Lời" là lời được nói ra, còn "đầu" là cái đi trước lời này. Hua t'ou là khoảnh khắc trước khi một ý nghĩ nảy sinh. Ngay khi ý nghĩ nảy sinh nó trở thành hua wei (vĩ ngôn) - hua wei nghĩa theo từ là "đuôi lời". Và thế thì, khi ý nghĩ đã qua rồi hay khi lời đã qua rồi và lại có lỗ hổng, nó lại là hua t'ou. Thiền nhìn vao trong hua t'ou này.

"Người ta không nên sợ việc nảy sinh ý nghĩ," Phật nói, "mà chỉ nên sợ chậm trễ trong việc nhận biết về chúng." Đây là cách tiếp cận cực kì mới tới tâm trí, chưa bao giờ được thử trước Phật. Phật nói người ta không nên sợ việc ý nghĩ nảy sinh. Người ta chỉ nên sợ một điều - không nhận biết về chúng, về việc bị chậm trễ trong nhận biết.

Khi một ý nghĩ nảy sinh, nếu cùng ý nghĩ này nhận biết của bạn cũng có đó - nếu bạn có thể thấy nó nảy sinh, nếu bạn có thể thấy nó đang tới, nếu bạn có thể thấy nó ở đó, nếu bạn có thể thấy nó đi - thế thì không có vấn đề gì hết cả. Chính việc thấy này, dần dần, trở thành thành luỹ của bạn. Chính nhận biết này đem tới cho bạn nhiều kết quả. Đầu tiên bạn có thể thấy, bạn thấy rằng bạn không là ý nghĩ. Ý nghĩ tách biệt khỏi bạn, bạn không bị đồng nhất với nó. Bạn là tâm thức và nó là nội dung. Nó tới và đi - nó là vị khách, bạn là người chủ. Đây là kinh nghiệm đầu tiên về thiền.

Thiền nói về "bụi ngoại" - chẳng hạn, một lữ khách dừng lại ở một quán trọ nơi người đó nghỉ qua đêm hay ăn uống. Thế rồi người đó đóng gói và tiếp tục cuộc hành trình của mình, bởi vì người đó không có thời gian ở lại lâu hơn. Mặt khác, người chủ nhà trọ chẳng có đâu mà đi. Người không ở lại là khách, còn người ở lại là chủ. Do đó, một thứ là "ngoại" khi nó không ở lại. Hay, vào ngày quang đãng khi mặt trời mọc và ánh mặt trời chiếu vào nhà qua cửa sổ, người ta có thể thấy bụi trong tia sáng - nhưng không gian trống rỗng là bất động. Cái tĩnh tại là trống rỗng, còn cái chuyển động là bụi. "Bụi ngoại" là suy nghĩ giả tạo, còn trống rỗng là tự tính của bạn - người chủ không theo khách đi vào đi ra.

Đây là sáng suốt lớn lao. Tâm thức không phải là nội dung. Bạn là tâm thức; ý nghĩ đến và đi, bạn là người chủ. Ý nghĩ là khách - chúng đến và ở lại một chút, nghỉ ngơi một chút, ăn uống, hay ở qua đêm, và thế rồi chúng qua đi. Bạn bao giờ cũng còn đấy. Bạn bao giờ cũng vẫn vậy, bạn không bao giờ thay đổi - bạn ở đó vĩnh hằng. Bạn là bản thân điều vĩnh hằng.

Hãy quan sát điều đó. Đôi khi bạn ốm, đôi khi bạn khoẻ, đôi khi bạn buồn phiền, đôi khi bạn hạnh phúc. Ngày nào bạn đã rất nhỏ, đứa trẻ, thế rồi bạn trở thành thanh niên, và thế rồi bạn trở nên già. Ngày nào bạn đã khoẻ mạnh, ngày nọ tới bạn trở nên ốm yếu. Tất cả những điều này đến và đi, nhưng tâm thức bạn vẫn vậy. Đó là lí do tại sao, nếu bạn nhìn vào bên trong, bạn không thể nhận ra mình bao nhiêu tuổi - bởi vì không có tuổi. Nếu bạn đi vào bên trong và nhìn và cố tìm ra mình bao nhiêu tuổi, thì lại không có tuổi bởi vì không có thời gian. Bạn đích xác là cùng người như khi bạn đã là đứa trẻ hay khi bạn là thanh niên. Bạn tuyệt đối vẫn vậy ở bên trong. Để biết tuổi bạn phải nhìn vào lịch, nhìn vào nhật kí, nhìn vào giấy khai sinh của mình - bạn phải tìm cái gì đó bên ngoài. Bên trong bạn sẽ không thấy tuổi nào hay việc già đi nào. Bên trong có vô thời gian. Bạn vẫn vậy - dù có đám mây gọi là buồn phiền hay đám mây gọi là hạnh phúc, bạn vẫn vậy.

Đôi khi có mây đen trên bầu trời - bầu trời không thay đổi bởi vì những đám mây đen đó. Và đôi khi có mây trắng nữa, và bầu trời không thay đổi bởi vì những đám mây trắng này. Mây đến và đi, và bầu trời còn lại. Mây đến và đi, và bầu trời ở lại.

Bạn là bầu trời và ý nghĩ là mây. Nếu bạn quan sát ý nghĩ của mình một cách chăm chú, nếu bạn không bỏ lỡ chúng, nếu bạn nhìn thẳng vào chúng, điều đầu tiên sẽ là hiểu biết này - và đây là hiểu biết lớn lao. Đây là bắt đầu của phật tính của bạn, đây là bắt đầu của thức tỉnh của bạn. Bạn không còn ngủ nữa, bạn không còn bị đồng nhất với mây cái đến và đi. Bây giờ bạn biết rằng bạn ở lại mãi mãi. Bỗng nhiên mọi lo âu biến mất. Chẳng cái gì thay đổi bạn, chẳng cái gì sẽ bao giờ thay đổi bạn - cho nên phỏng có ích gì mà lo âu, mà phiền não ? Phỏng có ích gì mà lo nghĩ? Chẳng lo nghĩ nào có thể làm gì được bạn. Những điều này đến và đi, chúng chỉ là gợn sóng trên bề mặt. Sâu trong chiều sâu của bạn, không một gợn sóng nào đã bao giờ phát sinh. Và bạn ở đó, và bạn là cái đó. Bạn là sự hiện hữu đó. Thiền nhân gọi nó là trạng thái của việc là người chủ.

Thông thường, bạn đã trở nên quá bị đồng nhất với khách - do đó mới có khổ của bạn. Vị khách này tới, bạn trở nên bị quá gắn bó. Và khi vị khách này đóng gói và ra đi, thế thì bạn kêu bạn khóc và bạn chạy quanh - và bạn đi cùng người đó, ít nhất để tiễn người đó, để chào tạm biệt người đó. Thế rồi bạn quay về vừa kêu và khóc - một người bạn đã ra đi và bạn cảm thấy khổ thế. Thế rồi người khách khác đến và bạn lại rơi vào tình cảnh đó với người khách này, bạn lại trở nên bị đồng nhất với người khách, và người đó lại ra đi...

Khách đến và đi, họ không ở lại! Họ không thể ở lại được, họ không được coi là ở lại, họ không được ngụ ý ở lại.

Bạn có quan sát ý nghĩ nào không ? Nó chưa bao giờ ở lại, nó không thể ở lại được. Cho dù bạn muốn làm cho nó ở lại, nó cũng không thể ở được. Thử mà xem. Đó là điều mọi người thỉnh thoảng có thử đấy - họ cố gắng giữ một từ trong tâm trí. Chẳng hạn, họ muốn giữ một âm thanh, aum, trong tâm trí. Trong vài giây họ nhớ và thế rồi nó qua mất, tuột đi mất. Họ lại nghĩ về công việc của mình, về vợ, về con... Bỗng nhiên họ trở nên nhận biết - aum kia đâu rồi? Nó đã tuột khỏi tâm trí.

Khách là khách - họ đã không tới để ở mãi mãi. Một khi bạn thấy tất cả mọi thứ xảy ra cho bạn đều sẽ đi khỏi bạn, thế thì sao lại lo nghĩ ? Hãy quan sát: Cứ để chúng đó, để chúng đóng gói, để chúng đi. Bạn còn lại. Bạn có thể thấy an bình nảy sinh không nếu bạn có thể cảm thấy rằng bạn bao giờ cũng vẫn còn? Đây là im lặng. Đây là trạng thái không lo nghĩ. Đây là không khổ sở. Khổ dừng lại vào khoảnh khắc sự đồng nhất dừng lại. Đừng bị đồng nhất - có vậy thôi. Và nếu bạn có thể quan sát ai đó sống trong vô thời gian vĩnh hằng thế, bạn sẽ cảm thấy cái duyên dáng, cái trầm tĩnh, cái đẹp quanh người đó.

(Sưu tầm của nhà chú thanh.nqt)

_________________
"...Say say tỉnh tỉnh thành say thật
Tỉnh tỉnh say say rõ tỉnh vờ..."


Ngoại tuyến
   
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Lượm lặt
Gửi bàiĐã gửi: 14 Tháng 11 2013 15:30 
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 26 Tháng 8 2009 23:03
Bài viết: 1843
Đến từ: Hà nội
Những chuyện lạ thường về 'truyền nhân' của Đức Phật

Sự kỳ bí "độc nhất vô nhị" của nghi thức Lễ tấn phong Phật sống truyền thế cũng như vai trò cực kỳ to lớn của Phật sống sau khi được tấn phong, đã thu hút sự quan tâm không những của người dân Trung Quốc (TQ), mà còn nhận được sự quan tâm rộng rãi của cộng đồng quốc tế.

Lễ chọn và tấn phong diễn ra theo đúng các quy tắc và lễ nghi tôn giáo cổ truyền. Người được chọn làm Đệ lục thế đức chu hoạt Phật (Đức Phật truyền thế đời thứ 6) là Lạc Tang Đa Cát sinh ngày 30/11/2005 tại huyện Long Tử, khu Sơn Nam (Tây Tạng).

Nằm ở phía tây nam có đường biên giới chung với nhiều quốc gia như Ấn Độ, Nepal, Myanmar, Afghanistan, Tây Tạng là vùng đất rộng lớn của TQ. Do địa hình hiểm trở, giao thông khó khăn, dân cư thưa thớt nên vùng đất này hầu như bị tách khỏi phần còn lại của thế giới. Người ta chỉ biết tới Tây Tạng là "nóc nhà của thế giới" với dãy núi Himalaya cao nhất hành tinh, quanh năm tuyết phủ. Nhưng Tây Tạng không phải chỉ có vậy. Nơi đây còn ẩn chứa một nền văn hóa rất phong phú và đặc sắc nhiều khi mang đậm màu sắc tâm linh với những tập tục rất riêng. Một trong những số đó là tập tục Phật sống truyền thế.

Phật giáo ở Tây Tạng và cả vùng Nội Mông (một vùng đất nằm ở phía tây bắc TQ, được gọi chung là Thanh - Tạng), được coi là "quốc giáo". Ngay từ giữa thế kỷ VII, theo chân các nhà sư, Phật giáo đã từ Ấn Độ, Nepal và Trung nguyên (tức TQ) du nhập vào vùng Tây Tạng và cả vùng Nội Mông Thanh Hải. Tại những nơi này Phật giáo từ bên ngoài kết hợp với một số tôn giáo bản địa đã dần dần hình thành nên môn phái Phật giáo mang đặc điểm riêng của vùng và được gọi là Tạng truyền Phật giáo (hoặc còn có các tên gọi khác như Tây Tạng Phật giáo, Tạng ngữ hệ Phật giáo, hoặc Lạt Ma giáo).

Tạng truyền Phật giáo gồm 5 giáo phái chủ yếu là Ninh mã phái (Hồng giáo), Cát đương phái (Hắc giáo), Cát cử phái (Bạch giáo), Tát già phái (Hoa giáo) và Cách lỗ phái (Hoàng giáo). Một trong những đặc điểm riêng của Tạng truyền Phật giáo là thực hành chế độ Phật sống truyền thế, tức Hoạt Phật truyền thế.

Phật sống truyền thế là một tập tục chỉ có riêng của Phật giáo Tây Tạng. Tập tục này xuất hiện ở Tây Tạng vào khoảng thế kỷ thứ XIII do giáo phái Cát cử (Bạch giáo) định chế ra, sau đó được tất cả các giáo phái Phật giáo ở Tây Tạng phỏng theo mà áp dụng cho giáo phái mình.

Tập tục Phật sống truyền thế được lập ra căn cứ vào giáo lý "Tọa hóa độ sinh" (đức Phật tái thế) của Đức Phật Thích Ca. Theo giáo lý này thì khi Đức Phật (tức người đứng đầu giáo phái) viên tịch (chết đi) sẽ đầu thai và mang hình hài một đứa trẻ nào đó (gọi là linh đồng).

Các vị cao tăng của giáo phái đó sẽ căn cứ vào vô số các lời dặn dò trước khi viên tịch của vị Phật sống của giáo phái mình và cả những lời báo mộng của vị thần Hộ pháp có tên Lạp Mục Xuy Trung về phương hướng và địa danh mà linh đồng sinh ra, đồng thời kết hợp với sự quan sát hình tích của linh đồng đã được thể hiện trong "hình mẫu thánh hồ" (tức là hình bóng của Đức Phật in trên mặt nước) v.v... mà chia thành nhiều nhóm để đi tìm vị linh đồng đó.

Sau khi tìm được linh đồng (có thể có nhiều linh đồng, thí dụ vào năm 1994 người ta đã tìm được 28 linh đồng ở rải rác trong 46 huyện thuộc 5 tỉnh của vùng Tây Tạng và Nội Mông), các vị cao tăng lại sẽ căn cứ vào phương và năm (tính theo can chi), kết hợp với phong thủy của vùng đất nơi linh đồng sinh ra và những điều kiện khác như tướng mạo, khả năng đối đáp của linh đồng khi được hội đồng các vị cao tăng hỏi han v.v... để tiến hành phân tích, so sánh sàng lọc một cách hết sức cẩn thận.

Cuối cùng chọn lấy một danh sách khả dĩ các linh đồng có thể được chọn làm Phật sống để sau đó trở thành người đứng đầu giáo phái của mình (thí dụ năm 1994 danh sách này gồm 7 linh đồng). Cho tới lễ tuyển chọn thì lọc một lần nữa để có danh sách cuối cùng (năm 1994 còn 3 linh đồng, còn năm 2010 thì chọn được 2 linh đồng).

Bước quyết định là lễ tuyển chọn được tiến hành trong một ngôi chùa linh thiêng nhất của giáo phái đó. Trước tượng Thích Ca Mâu Ni và với sự hiện diện của các vị cao tăng, đại đức, các quan chức chính quyền từ trung ương tới địa phương, người ta viết tên của các linh đồng đã "qua các bước sơ tuyển và được vào vòng chung kết" lên những tấm thẻ làm bằng ngà voi.

Các tấm thẻ này được cho vào các túi bằng lụa hoàn toàn giống nhau. Sau khi được niêm phong cẩn thận, các túi có đựng thẻ này được cho vào một cái bình bằng vàng (gọi là bình Kim Bôn ba) và được đặt trên bệ thờ. Sau một loạt các nghi thức hành lễ tôn giáo, một vị cao tăng xóc những tấm thẻ đó trong bình và rút ngẫu nhiên một cái túi có đựng thẻ rồi giao cho vị chủ lễ.

Tấm thẻ trong túi được rút ra cho tất cả các vị cao tăng và quan chức cùng xác định tên tuổi của người được viết trên tấm thẻ đó. Khi mọi người không còn thắc mắc gì nữa, vị chủ lễ tuyên bố tên vị linh đồng được chọn làm Phật sống. Và vị Phật sống này sẽ trở thành người đứng đầu giáo phái.

Việc rút thẻ để xác định Phật sống truyền thế (còn gọi là lễ "rút thẻ bình vàng", hay còn được gọi là lễ " Kim bình xiết thiêm"), được quy định từ năm 1792 do Vua Càn Long (làm vua 60 năm, từ năm 1736 đến 1796, được coi là thời thịnh trị nhất của nhà Thanh) đặt ra.

Còn trước năm 1792 thì việc xác định "linh đồng" chỉ là sự chọn lựa của những vị chức sắc Phật giáo của môn phái đó. Điều này dẫn đến những việc làm sai trái.

Thí dụ có những trường hợp do mối quan hệ gia đình họ hàng thân thiết mà người ta đã lựa chọn "linh đồng" là người của gia tộc mình, như trường hợp Đạt Lai Trát Tất Khắc của vùng Nội Mông đã "tiến cử linh đồng" là con của Vương Công gia (một người họ hàng với mình).

Hoặc cũng có trường hợp sau khi Phật sống Triết Bố Tôn Ban viên tịch thì tộc trưởng Phúc Tấn (là người có quyền chọn linh đồng) đã chỉ vào bụng vợ đang có mang và bảo: đó là linh đồng truyền thế. Nhưng đến khi sinh ra lại là con gái! Và việc này đã sinh ra chuyện thị phi trong cả giáo phái.

Nói chung chuyện tương tự như vậy là không hiếm. Vì vậy năm 1792, Vua Càn Long đã ra một chỉ dụ: Chế ra một bình làm bằng vàng tặng cho Tây Tạng. Khi tiến hành lễ chọn Phật sống thì viết tên của tất cả những người được lựa chọn, tên mỗi người được viết vào một cái thẻ đặt vào bình vàng. Sau đó sẽ rút thẻ để xác định "linh đồng truyền thế". Tất nhiên việc này cũng không thể xóa bỏ hoàn toàn tệ nạn đã nêu, nhưng dù sao cũng làm giảm đi những điều tai tiếng.

Vì Tạng truyền Phật giáo gồm nhiều giáo phái khác nhau. Trong quá trình phát triển của mình, một số giáo phái đã tìm cách giành được sự ủng hộ của chính quyền ở địa phương và trung ương nên nắm được chính quyền, hình thành nên một chính quyền - tôn giáo hợp nhất, tức là người đứng đầu giáo phái (Phật sống của giáo phái đó) cũng đồng thời là người đứng đầu chính quyền của cả vùng Tây Tạng, Nội Mông).

Thí dụ từ năm 1253 đến 1270, Nguyên Thế tổ Hốt Tất Liệt đã phong cho Bát Tư Ba, Ngũ tổ của giáo phái Tát già chức Đại Bảo pháp vương, được quyền lĩnh chức Hành chính trưởng quan khu Tây Tạng. Đến thế kỷ XIV, Cát cử phái cướp chính quyền ở Tây Tạng và được sự thừa nhận của chính quyền Trung ương. Nguyên Huệ tông đã phong Giáng Khúc Tương Tham (Phật sống của phái Cát cử) chức Đại tư đồ đứng đầu chính quyền Tây Tạng.

Khoảng giữa thế kỷ XVII, Cách lỗ phái trở thành giáo phái đứng đầu ở Tây Tạng, thay thế cho Cát cử phái và duy trì vai trò đó cho tới tận ngày nay. Cách lỗ phái (hay còn gọi là Hoàng giáo, do các môn đệ của giáo phái này đầu luôn đội mũ màu vàng) xuất hiện vào đầu thế kỷ XV do Tông ca ba đại sư sáng lập. Tông ca ba đại sư còn có tên gọi Lạc Tang Trát Ba sinh năm 1357 tại làng Tông Ca huyện Hoàng Trung, tỉnh Thanh Hải thuộc Nội Mông. Lúc nhỏ tu tại chùa Hạ Quỳnh (Thanh Hải), năm 16 tuổi vào Tây Tạng. Sau nhiều năm trời tu hành khổ luyện, tinh thông Phật pháp, Tông ca ba đại sư đã khai sáng một giáo phái mới có tên Cách lỗ phái (tiếng Tạng “cách lỗ” nghĩa là thiện quy).

Tương truyền danh hiệu Đạt Lai (tiếng Tạng có nghĩa là "đạo đức sâu rộng, vô sở vô năng") và Ban Thiền (có nghĩa là “đại trí đại dũng”) là do Vua Thuận Trị (vua nhà Thanh từ năm 1644 đến 1662) phong tặng. Vị Ban Thiền Lạt ma hiện nay của Hoàng giáo là Thập nhất thế Ban Thiền (tức Ban Thiền Lạt ma thứ 11 tính từ Đệ nhất Ban Thiền Khải Châu), có tên là Gian Sena Norbi, sinh ra trong một gia đình nông dân ở làng Gia Lễ khu Tây Tạng, lên ngôi Ban Thiền ngày 8/12/1995, khi đó mới tròn 6 tuổi. Tông ca ba đại sư có hai đại đồ đệ tài hoa xuất chúng giúp đỡ, một vị có tên Căn Thục Châu Ba, một vị tên là Khải Châu (hay còn gọi là Khắc Châu Kiệt). Sau khi hai vị này tạ thế, theo chế độ Phật sống truyền thế, cả hai vị đều lần lượt được truy tặng là Phật sống tối cao của Hoàng giáo. Căn Thục Châu Ba được gọi là Đệ nhất Đạt Lai Lạt ma, Khải Châu được gọi là Đệ nhất Ban Thiền Lạt ma (một số tài liệu dịch Ban Thiền Lạt ma là Pachen Lạt ma).

Từ trên giáo nghĩa mà xét thì danh phận của Đạt Lai và Ban Thiền là hoàn toàn tương đồng với quyền lực của tôn giáo, còn xét về mặt lịch sử thì quan hệ giữa hai vị đại Phật sống này là quan hệ thầy trò (Đạt Lai được coi là thầy của Ban Thiền). Cho tới năm 1751, triều đình nhà Thanh đã tiến hành cải cách chế độ chính trị của Tây Tạng bằng việc cử một vị Khâm sai đại thần thường trú tại đây, đồng thời thành lập Chính phủ Catxia (Các hạ) để phối hợp với Đạt Lai và Ban Thiền trong việc chủ trì công việc của Tây Tạng.

Từ năm 1949, Tây Tạng trở thành một khu tự trị của nước Trung Hoa mới thì chính quyền Trung ương đã tôn trọng những nghi lễ của các giáo phái Phật Tạng, trong đó có nghi lễ Phật sống truyền thế. Ngay từ khi Đệ ngũ thế hoạt phật Giang Bạch Các Tang Gia Thố từ trần ngày 11/3/2000, chính quyền khu tự trị Tây Tạng căn cứ vào tập tục "Tạng truyền Phật giáo hoạt phật truyền thế" đã ra thông báo về quyết định "phê chuẩn việc tìm vị Hoạt Phật mới".

Sau đó tiểu tổ tìm kiếm Hoạt Phật được thành lập do các vị cao tăng, đại đức của ngôi chùa Trát Quả tự phụ trách. Trải qua hàng chục năm tìm kiếm, cuối cùng tiểu tổ đã tìm được 2 "linh đồng". Và tới cuộc "xóc bình vàng" rạng sáng 4/7 đã xác định được Đệ lục thế Hoạt Phật của Phật giáo Tây Tạng.
http://m.nguoiduatin.vn/nhung-chuyen-la-thuong-ve-truyen-nhan-cua-duc-phat-a98111.html

_________________
"...Say say tỉnh tỉnh thành say thật
Tỉnh tỉnh say say rõ tỉnh vờ..."


Ngoại tuyến
   
 
Hiển thị bài viết cách đây:  Sắp xếp theo  
Tạo chủ đề mới Gửi bài trả lời  [ 4 bài viết ] 

Múi giờ UTC + 7 Giờ


 Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào trực tuyến.1 khách.


Bạn không thể tạo chủ đề mới.
Bạn không thể trả lời bài viết.
Bạn không thể sửa những bài viết của mình.
Bạn không thể xóa những bài viết của mình.
Bạn không thể gửi tập tin đính kèm.

Tìm với từ khóa:
Chuyển đến:  
 
cron