Hôm nay, 17 Tháng 8 2018 08:23

Múi giờ UTC + 7 Giờ




Tạo chủ đề mới Gửi bài trả lời  [ 24 bài viết ]  Chuyển đến trang Trang vừa xem  1, 2, 3
Người gửi Nội dung
 Tiêu đề bài viết: Re: Y LÝ ĐÔNG PHƯƠNG
Gửi bàiĐã gửi: 18 Tháng 5 2012 07:50 

Ngày tham gia: 02 Tháng 10 2011 17:14
Bài viết: 10
Xứ Đoài nhà cháu ! đã viết:
Điều nì chả wuan trọng nhà bác à. Cơ bổn là miềng phải nắm được nguyên lý.

Còn mấy cái hình nớ anh em nhà cháu copy and paste ở yhoccotruyen.com; có thể người vẽ cũng chửa hiểu rõ nên thể hiện chửa thành, hoặc giả người xem khí máy móc... :lol: :lol: :lol:

Mọi thứ của Á đông đều là phương thức, mờ không phải là công thức !

Vâng, đúng như bác nói. Mình phải nắm được nguyên lý là chính. Cám ơn bác.


Ngoại tuyến
   
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Y LÝ ĐÔNG PHƯƠNG
Gửi bàiĐã gửi: 26 Tháng 3 2014 14:32 
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 26 Tháng 8 2009 23:03
Bài viết: 1846
Đến từ: Hà nội
NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH TỪ BÊN NGOÀI (LỤC DÂM, LỤC TÀ)

- Sáu thứ khí: phong (gió), hàn (lạnh), thử (nắng oi), thấp (độ ẩm), táo (độ khô), hoả (nhiệt), khi trở thành nguyên nhân gây bệnh gọi là lục dâm, lục tà.
- Gây ra những bệng ngoại cảm (bệnh do bên ngoài đưa tới) như bệnh nhiễm trùng, truyền nhiễm, đau dây thần kinh ngoại biên do lạnh…
- Luôn luôn quan hệ với thời tiết: phong, thấp : mùa xuân; hàn: mùa đông; hỏa, thử: mùa hè; táo: màu thu.
- Sau thứ khí hay phối hợp với nhau, mà phong hay xuất hiện hơn cả, làm bệnh có tính chất đa dạng như phong hàn, phong nhiệt, phong thấp…
- Cần phân biệt chứng phong, hàn, thấp, táo, hoả do lục khí gây ra (ngoại phong, ngoại hàn, ngoại thấp, ngoại táo, ngoại hoả) với các chứng phong hàn, thấp, táo, hoả do trong cơ thể sinh ra (nội phong, nội hàn, nội thấp, nội táo, nội nhiệt).
1. Phong
Phong có hai loại: ngoại phong là gió, chủ khí về xuân nhưng màu nào cũng gây bệnh, hay phối hợp với các khí khác: hàn, thấp, nhiệt thành phong hàn, phong thấp, phong nhiệt. Nội phong sinh ra do công năng của tạng can bất thường (can phong) xuất hiện các chứng: co giật, chóng mặt, hoa mắt…
1.1. Đặc tính của phong
- Phong là dương tà hay đi lên và ra ngoài, nên hay gây bệnh ở phần trên của cơ thể (đầu, mặt),và ở phần ngoài (cơ biểu) làm da lông khai tiết: ra mồ hôi, sịư gió, mạch phù…
- Phong hay di động và biến hoá: bệnh do phong hay di chuyển như đau các khớp, đau chỗ này chỗ khá, ngứa nhiều chỗ lên gọi là “phong động” biến hoá bệnh nặng, nhẹ mau lẹ.
1.2. Các chứng bệnh hay xuất hiện do phong
a. Phong hàn
- Cảm mạo do lạnh: ngạt mũi, chảy nước mũi, sợ lạnh, sợ gió, mạch phù.
- Đau dây thần kinh ngoại biên, đau các khớp do lạnh.
- Ban chẩn dị ứng, viêm mũi dị ứng do lạnh.
b. Phong nhiệt
- Cảm mạo có sốt, giai đoạn đầu các bệnh truyền nhiễm: sốt, sợ gió, không sợ lạnh, họng đau đỏ, nước tiểu vàng, chất lưỡi và rêu lưỡi vàng, mạch phù sác.
- Viêm màng tiếp hợp theo mùa, dị ứng.
- Viêm khớp cấp.
c. Phong thấp
- Viêm khớp dạng thấp, thoái khớp.
- Đau các dây thần kinh ngoại biên.
1.3. Chứng nội phong (can phong)
Do can khí thực kích động đến cân hay do can huyết hư không nuôi dưỡng cân:
- Sốt cao co giật
- Bệnh cao huyết áp do can thận âm hư làm can dương nôi lên gây nhức đầu, chóng mặt, hoa mắt…
- Các tai biến mạch máu não do nhũn não, chảy máu não do can huyết hư gây các chứng: liệt nửa người, chân tay co quắp…
2. Hàn
Hàn có hai loại: ngoại hàn do lạnh, chủ khí về mùa đông gây ra bệnh ở cơ thể bằng 2 cách: thương hàn là hàn phạm vào phần cơ biểu bên ngoài, trúng hàn là hàn trực trúng vào tạng phủ. Nội hàn là do dương khí của cơ thể kém làm các cơ năng giảm sút gây ra bệnh.
2.1. Đặc tính của hàn
- Hàn là âm tà hay tổn thương dương khí: như hàn phạm vào da cơ, vệ khí bị yếu gây cảm mạo, hàm phạm vào tỳ vị làm tỳ dương hư không vận hoá được đồ ăn gây ỉa chảy, tay chân lạnh.
- Hàn hay ngừng trệ, hay gây đau tại chỗ: hàn xâm phạm vào cơ thể gây khi huyết ứ trệ, không thôn gây đâu như đau dạ dày do trời lạnh, cước làm xung huyết gây đau.
- Hàn hay gây co rút, làm bế tắc lại, như lạnh gây co cứng cơ, đau vay gáy, đau lưng, viêm đại tràng co thắt do lạnh, chuột rút các cơ do lạnh…
2.2. Các chứng bệnh hay xuất hiện do hàn
- Phong hàn: đã trình bày ở phần phong
- Hàn thấp: đi ỉa chảy, nôn mửa, đau bụng do lạnh.
2.3. Chứng nội hàn: Thường do dương hư
a. Tâm phế dương
- Chứng tắc động mạch vành, mùa lạnh hay gặp.
- Hen kèm với những triệu chứng dương hư, vì thận dương hư không nạp phế khí.
b. Tỳ vị hư hàn
Ăn kém, đầy bụng, sợ lạnh, tay chân lạnh, ỉa chảy, mạch trầm trì, trầm nhược.
c. Thận dương hư
Người già sợ lạnh, tay chân lạnh, ỉa chảy, tiểu tiện nhiều lần…
Chứng nội hàn do dương khí kèm, thì vệ khí cũng kém hay gây cho người ta dễ dàng bị cảm lạnh.
3. Thử (nắng), chủ khí về mùa hè
3.1 Đặc tính của thử
- Thử là dương tà hay gây sốt và hiện tượng viêm nhiệt, khát, mạch hồng, ra mồ hôi.
- Thử hay đi lên trên, tản ra ngoài (thăng tán) làm mất tân dịch: gây ra mồ hôi nhiều, mất nước và điện giải có thể gây hôn mê, truỵ mạch.
- Hay phối hợp với thấp lúc cuối hạ sang thu gây ra các chứng ỉa chảy, lỵ.
3.2. Các chứng bệnh hay xuất hiện do thử
a. Thử nhiệt:nhẹ gọi là thương thử, nặng gọi là trúng thử.
- Thương thử: sốt về mùa hè, vật vã, khát, mỏi mệt.
- Trúng thử: Say nắng: nhẹ thì hoa mắt chóng mặt, nặng thì đột nhiên hôn mê, bất tỉnh nhân sự, khò khè ra mồ hôi lạnh, chân tay quyết lạnh.
b) Thử thấp: Đi ỉa chảy về cuối mùa hè, lỵ, ỉa chảy nhiễm trùng.
4. Thấp (Độ ẩm thấp)
Thấp gồm hai loại: Ngoại thấp, độ thấp chủ khí về cuối mùa hạ, hay gặp ở nơi ẩm thấp, và những người làm việc ở nơi thấp, nội thất di tỳ hư vận hoá giảm sút, tân dịch đình lại gây thấp.
4.1. Đặc tính của thấp.
- Thấp hay gây ra chứng nặng nề như đau khớp chân tay mình mẩy nặng nề, cảm mạo do cảm lạnh kèm thêm thấy mỏi nhừ toàn thân.
- Hay bài tiết ra các chất đục ( thấp trọc), như đại tiện lỏng, nước tiểu đục, chảy nước dục trong bệnh chàm.
- Thấp hay gần dính, nhớt: miệng dính nhớt, tiểu tiện khó ( sáp) khi gây bệnh khó trừ được nên hay tái phát như phong thấp.
- Thấp là âm tà hay làm tổn thương dương khí, gây trở ngại cho khí vận hành.
- Thấp làm dương khí của tỳ vị bị giảm sút, ảnh hưỏng đến sự vận hoá thuỷ thấp gây chứng phù thũng, ảnh hưởng đến vận hoá dồ ăn gây cá chứng bệnh về tiêu hoá như nhạt miệng, ăn kém, đầy bụng, ỉa chảy, mót rặn.
4.2. Các chứng bệnh hay gặp do phong thấp.
- Phong thấp: Đã nêu ở phần phong.
- Hàn thấp: Đã nêu ở phần hàn.
- Thấp chẩn: Bệnh chàm.
- Thấp nhiệt: Gồm tất cả các bệnh nhiễm trùng ở đường tiết liệu sinh fục và tiêu hoá, như viêm gan, viêm đường dẫn mật, lỵ, ỉa chảy nhiễm trùng, viêm phần phụ, viêm niệu đạo âm đạo, viêm bàng quang…
4.3. Chứng nội thấp (Do tỳ hư không vậm hoá được thuỷ thấp).
Ở thương tiêu: Đầu nặng, hoa mắt, tức ngực, chậm tiêu, miệng dính, ỉa chảy, chân tay nặng nề, mệt.
Ở hai tiêu: Phù ở chân, nước tiêut ít, đục, phụ nữ ra khí hư ( đới hạ).
5. Táo
Táo có hai loại: Ngoại táo là độ khô chủ khí về mùa thu, xâm nhập bắt đầu từ mũi, miệng, phế và vị khí vào bên trong cơ thể chia làm hai thể: ôn táo và lương táo, nội táo do tân dịch, khí, huyết áp giẩm sốt gây ra bệnh.
5.1. Đặc tính của táo.
Tính khô hay làm tổn thương tân dịch: Mũi khô, họng khô, da khô, đại tiện táo, nước tiểu ít, ho khan ít đờm.
5.2. Các chứng bệnh hay xuất hiện do táo.
Lương táo: Sốt, sợ lạnh, đau đầu không có mồ hôi, họng khô, ho đờm ít hay gặp do chứng cảm mạo do lạnh về mùa thu.
Ôn táo: Sốt cao, ít sợ lạnh, đau đầu, đau ngực, mũi khô, miệng khát, tâm phiền, đầu lưỡi đỏ, hay gây chứng mất tân dịch và điện giải ( Âm hư, huyết nhiệt) dễ gây biến chứng nhiễm độc thần kinh và vận mạch: Nói làm nhảm, vật vã, hôn mê, suất huyết, viêm não…..
5.3. Chứng nội táo.
Do bẩn tố tạng nhiệt, dùng quá lâu ngày thuốc đắng, thuốc hạ, bệnh sốt cao kéo dài lâu ngày làm tân dịch bị hao tổn, gây ra các chứng khát, da, tóc lông khô, táo gầy…..
6. Hoả.
Hoả và nhiệt giống nhau là một khí trong lục dâm, như các khí khác như phong, thấp, hàn, táo cũng có thể hoá hoả, ngoài ra các tạng phủ, tình chí cũng biến hoả, như can hoả, tâm hoả, đờm hoả….
Cần phân biệt chứng hư hoả ( hư nhiệt) với chứng hoả do bên ngoài đưa tới ( thực nhiệt).
6.1. Đặc tính của hoả
a) Hoả hay gây sốt và chứng viêm nhiệt.
- Gây sốt: Sốt cao, phiền táo, mặt đỏ nước tiểu đỏ, khát họng đỏ sưng đau.
- Gây viêm nhiệt ở phần trên: Như tâm hoả gây loét lưỡi; vị hoả gây sưng lợi, can hoả gây mắt đỏ, sưng đau.
b) Hoả hay đốt tân dịch: Gây khát nước, miệng khô, lưỡi khô, táo, nặng có thể nói mê sảng, hôn mê.
c) Hoả hay gây chảy máu ( bức huyết vong hành), phát ban do nhiệt, làm tổn thương mạch lạc như nôn ra máu, chảy máu cam, đại tiện ra máu, tiểu tiện ra máu, ban chẩn trong các bệnh truyền nhiễm.
6.2.Các chứng bệnh hay xuất huyết do hoả.
a) Hoả độc, nhiệt độc.
- Hay gây ra các bệnh nhiễm trùng: Mụn, nhọt, viêm họng, viêm phổi…
- Gây các bệnh truyền nhiễm ở thời kỳ toàn phát không có hoặc có biến chứng gây mất nước, nhiễm độc thần kinh, chảy máu, mặt đỏ, sợ nóng, khát, táo, tiểu tiện ít đỏ, rêu lưỡi vàng dầy, chất lưỡi đỏ giáng, mạch nhanh, có thể thấy mê sảng, hôn mê hoặc nôn ra máu, chảy náu cam…
b) Thấp nhiệt
c) Phong nhiệt
d) Táo nhiệt Đã trình bày ở các phần: Phong, thấp, táo, thử.
e) Thử nhiệt
6.3. Chứng hư nhiệt: Do âm hư sinh nội nhiệt: Gò má đỏ, ngũ tâm phiền nhiệt, triều nhiệt, nhức xương, ra mồ hôi trộm, ho khan, họng khô, lưỡi đỏ, ít rêu hoặc không có rêu.


NGUỒN : http://yhoccotruyenqd.vn/kien-thuc-yhct ... LUC-TA-11/

_________________
"...Say say tỉnh tỉnh thành say thật
Tỉnh tỉnh say say rõ tỉnh vờ..."


Ngoại tuyến
   
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Y LÝ ĐÔNG PHƯƠNG
Gửi bàiĐã gửi: 26 Tháng 3 2014 14:35 
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 26 Tháng 8 2009 23:03
Bài viết: 1846
Đến từ: Hà nội
NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH TỪ BÊN TRONG (THẤT TÌNH)


1. Bảy thứ tình chí gây ra do những rối loạn về tâm lý, tình cảm.

Đó là: Vui mừng, giận dữ, buồn phiền, sợ hãi (kinh, khủng), yêu thương, sung sướng, ham muốn (hỷ, nộ, ai, ố, ái, lạc, dục)

2. Tình chí bị kích độnghay những sang chấn tinh thần gây ra mất thăng bằng về âm dương, khí huyết, tạng phủ, kinh lạc mà gây ra các bệnh nội thương như cao huyết áp, suy nhược thần kinh, loét dạ dày, tá tràng…..

3. Thất tình và tạng phủ có liên quan mật thiết.

- Tình chí bị kích động, tạng phủ sẽ biến hoá ra thất tình, can sinh ra giận giữ, tâm sinh ra vui mừng, tỳ sinh ra suy nghĩ, phế sinh ra lo lắng, thận sinh ra kinh sợ.

- Thất tình gây tổn thương tinh, khí, huyết của phủ tạng: Giận hai can, vui quá hại tâm, nghĩ hại tỳ, lo hại phế, sợ hại thận. Đặc biệt thất tình làm ảnh hưởng tới khí của phủ tạng; giận làm khí thăng ( cáu gắt). Vui thì kí hoãn, buồn thì khí tiêu, sợ thì khí hạ.

4. Thất tình đặc biệt hay gây các chứng bệnh cho 3 tạng: Tâm, can, tỳ

Tâm: Kính quý, chính xung, mất ngủ, hay quên, tinh thần không ổn định, hoang tưởng, cười nói luyên thuyên, thao cuồng, điên cuồng….

Can: Tinh thần uất ức, hay cáu gắt, mạng sườn đầy tức, phụ nữ đau vú, kinh nguyệt không đều, thống kinh.

Tỳ: Ăn uống kém, không muốn ăn, bụng đầy, đại tiện thất thường, phụ nữ bế kinh, phong huyết….

- Gây sốt: Sốt cao, phiền táo, mặt đỏ, nước tiểu đỏ, khát họng, họng đỏ sưng đau.

- Gây viêm nhiệt ở phần trên: Như tâm hoả gây loét lưỡi: Vị hoả gây sưng lợi, can hoả gây mắt đỏ, sưng đau.

b) Hoả hay dốt tân dịch: Gây khát nước, miệng khô,lưỡi khô, táo, nặng có thể nói mê sảng, hôn mê.

c) Hoả hay gây chảy máu ( bức huyết vong hành), phát ban do nhiệt, làm tổn thương mạch lạc như nôn ra máu, chảy máu cam, đại tiện ra máu, tiểu tiện ra máu, ban chẩn trong các bệnh truyền nhiễm.

NGUỒN : http://yhoccotruyenqd.vn/kien-thuc-yhct ... T-TINH-12/

_________________
"...Say say tỉnh tỉnh thành say thật
Tỉnh tỉnh say say rõ tỉnh vờ..."


Ngoại tuyến
   
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Y LÝ ĐÔNG PHƯƠNG
Gửi bàiĐã gửi: 26 Tháng 3 2014 14:48 
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: 26 Tháng 8 2009 23:03
Bài viết: 1846
Đến từ: Hà nội
HỌC THUYẾT THIÊN NHÂN HỢP NHẤT


Con người với hoàn cảnh tự nhiên và xã hội luôn mâu thuẫn và thống nhất với nhau, thông qua sự thích nghi, chế ngự, cải tạo hoàn cảnh thiên nhiên và xã hội sẽ sinh tồn và phát triển. Trong y học cổ truyền, ứng dụng học thuyết này để chỉ đạo các phương pháp phòng bệnh giữ sức khoẻ, tìm ra nguyên nhân gây bệnh và đề ra phương pháp chữa bệnh toàn diện.

1. Định nghĩa

Học thuyết thiên nhân hợp nhất nói lên giữa con người với hoàn cảnh tự nhiên và xã hội luôn mâu thuẫn và thống nhất với nhau. Con người thích nghi, chế ngự, cải tạo hoàn cảnh thiên nhiên và xã hội sẽ sinh tồn và phát triển

Trong y học người xưa ứng dụng học thuyết này để chỉ đạo các phương pháp phòng bệnh giữ sức khoẻ, tìm ra nguyên nhân gây bệnh và đề ra phương pháp chữa bệnh toàn diện.

2. Hoàn cảnh và con người
2.1. Hoàn cảnh tự nhiên và xã hội luôn luôn tác động đến con người
a. Hoàn cảnh tự nhiên: gồm khí hậu, thời tiết, địa lý, tập quán sinh hoạt
- Khí hậu, thời tiết bốn mùa gồm 6 thứ khí (lục khí): phong (gió), hàn (lạnh), thử (nắng), thấp (độ ẩm thấp), táo (độ khô), hoả (nóng), luôn luôn có mặt theo mùa tác động đến sức khoẻ con người. Khi sức khoẻ yếu (chính khí hư) chúng sẽ trở thành những tác nhân gây bệnh bên ngoài gọi là tà khí…

- Hoàn cảnh địa lý: miền đồng bằng, miền rừng núi, miền Nam, miền Bắc, tập quán sinh hoạt, phong tục, tín ngưỡng…luôn luôn gây nên những bệnh địa phương và ảnh hưởng đến sức khoẻ con người.

b. Hoàn cảnh xã hội: là những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hoá của xã hội luôn luôn tác động đến tư tưởng tình cảm, đạo đức của con người.
Trong một xã hội còn giai cấp bóc lột hoặc trong xã hội hết giai cấp bóc lột những tàn dư tư tưởng văn hoá của xã hội cũ hãy còn tồn tại, gây nên những ảnh hưởng xấu đến tư tưởng tình cảm, đạo đức của con người. Điều kiện kinh tế còn thấp kém, mức sống con người chưa cao là yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ. Tập quán sinh hoạt như. Văn hoá không lành mạnh, những tập tục, những tư tưởng lạc hậu luôn tác động đến tư duy con người…Tất cả những yếu tố tiêu cực trê sẽ gây ra những tác nhân không tốt về tâm lý xã hội là điều kiện gây ra các bệnh nội thương mà YHCT thường nói tới.

2.2. Con người luôn luôn thích ứng với hoàn cảnh tự nhiên và xã hội
Thời tiết, khí hậu và những điều kiện xã hội luôn tác động đến đời sống con người, có những yếu tố tích cực cần thiết cho sự sống của con người, ngược lại có những yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến sức khỏe con người.
Con người cần thích nghi hoàn cảnh, chế ngự và cải thiện tự nhiên và xã hội để sinh tồn và phát triển.
Muốn vậy con người cần có sức khoẻ, tinh thần phải vững vàng biểu hiện ở chính khí và các cơ năng thích ứng của cơ thể luôn luôn quân bình giữa các mặt âm, dương, khí huyết, tinh thần, tân dịch…

3. Ứng dụng trong y học

3.1. Học thuyết thiên nhân hợp nhất chỉ đạo nội dung phương pháp phòng bệnh và chăm sóc sức khoẻ của YHCT
a. Phòng bệnh tích cực
- Cải tạo thiên nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ đời sống
- Chủ động rèn luyện thân thể
- Thể dục, thể thao: thái cực quyền, khí công, dưỡng sinh…vv
- Chống dục vọng cá nhân, rèn ý chí, cải tạo bản thân và xã hội, xây dựng tinh thần lạc quan…
- Cải tạo tập quán lạc hậu, xây dựng nếp sống văn minh…

b. Phòng bệnh thụ động:
- Ăn tốt, mặc ấm, giữ gìn vệ sinh cá nhân, hoàn cảnh
- Điều độ về sinh hoạt, tình dục, lao động
Có thể kết luận phương pháp rèn luyện sức khoẻ của con người trước hoàn cảnh tự nhiên và xã hội bằng câu thơ bất hủ của Tuệ Tĩnh: “Bế tinh, dưỡng khí, tôn thần, thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình”.

3.2. Học thuyết thiên nhân hợp nhất chỉ đạo nội dung của các nguyên nhân gây bệnh và vai trò quyết định của cơ thể đối với việc phát sinh ra bệnh tật.
a. Nguyên nhân gây bệnh:
- Hoàn cảnh tự nhiên, địa lý với 6 khí, phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa là nguyên nhân gây ra các bệnh ngoại cảm. Khi trở thành tác nhân gây bệnh, lục khí được gọi là lục tà hay lục dâm.
- Hoàn cảnh xã hội gây ra những yếu tố về tâm lý xã hội gọi là thất tình (vui, giận, buồn, lo, nghĩ, kinh, sợ) là nguyên nhân gây các bệnh nội thương

b. Vai trò cơ thể quyết định trong việc phát sinh ra bệnh tật
Hoàn cảnh tự nhiên và xã hội luôn luôn tồn tại tác động vào con người nhưng bệnh tật chỉ xảy ra do sự thay đổi nội tại của con người, đó là sự giảm sút sức đề kháng còn gọi là chính khí hư làm cơ thể không thích ứng được với ngoại cảnh. Chính khí hư là vai trò nội nhân, quyết định sự phát sinh ra bệnh.

3.3. Học thuyết thiên nhân hợp nhất chỉ đạo nội dung phương pháp chữa bệnhtoàn diện của YHCT
Phải nâng cao chính khí con người bằng các phương pháp tổng hợp:
- Tâm lý liệu pháp
- Dự phòng trong điều trị: dưỡng sinh, khí công, thái cực quyền…
- Ăn uống bồi dưỡng
- Dùng châm cứu, xoa bóp, thuốc…
- Khi dùng thuốc bao giờ cũng chú trọng đến các thuốc nâng cao các mặt yếu của cơ thể (bổ hư) về âm, dương, khí, huyết, tân dịch…rồi mới đến các thuốc tấn công vào tác nhân gây bệnh.

Từ 3 học thuyết: âm dương, ngũ hành và thiên nhiên hợp nhất, YHCT đi tới một quan niệm toàn diện, thống nhất, chỉnh thể trong công tác phòng bệnh, chẩn đoán và chữa bệnh.
Người thầy thuốc phải nhận thấy con người ở thể thống nhất toàn vẹn giữa các chức phận, tinh thần và vật chất, cá nhân và hoàn cảnh bên ngoài để tìm ra các mâu thuẫn trong quá trình bệnh lý và giải quyết các mâu thuẫn đó bằng những phương pháp tích cực và đúng đắn nhất.

NGUỒN : http://yhoccotruyenqd.vn/kien-thuc-yhct ... OP-NHAT-9/

_________________
"...Say say tỉnh tỉnh thành say thật
Tỉnh tỉnh say say rõ tỉnh vờ..."


Ngoại tuyến
   
 
Hiển thị bài viết cách đây:  Sắp xếp theo  
Tạo chủ đề mới Gửi bài trả lời  [ 24 bài viết ]  Chuyển đến trang Trang vừa xem  1, 2, 3

Múi giờ UTC + 7 Giờ


 Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào trực tuyến.1 khách.


Bạn không thể tạo chủ đề mới.
Bạn không thể trả lời bài viết.
Bạn không thể sửa những bài viết của mình.
Bạn không thể xóa những bài viết của mình.
Bạn không thể gửi tập tin đính kèm.

Tìm với từ khóa:
Chuyển đến: